Chương 43: Ngoại Truyện: Hồ Thái Dịch phù dung vẫn nở

"A Mục!" Tôi kéo tay áo cậu ấy, nhưng sửa lại cách xưng hô, khẽ gọi thành: "Điện hạ…"

A Mục ngước nhìn tôi với vẻ ngỡ ngàng. Cậu ta vận bào màu trắng rộng thùng thình, càng tôn lên đôi con ngươi đen lay láy, vẻ mặt dường như còn vương nét ngây thơ.

Đáng lẽ, theo quy định của cung cấm, tôi không thể gọi thẳng tên mụ của Thái Tử, song từ năm 7 tuổi tôi tiến cung, lúc đó A Mục chỉ chừng 5 tuổi, nhỏ hơi cả tôi. Hai chúng tôi thân nhau như anh em, tôi lớn hơn, nên lúc nào cũng che chở cho cậu ấy. Lúc cậu ấy không thuộc bài, ngay trước mắt Thái Phó mà tôi cũng lén giúp, lúc cậu ấy bị phạt, thậm chí tôi còn bắt chước y hệt nét chữ của cậu ấy, rồi chép hộ một chồng sách dầy mà không bị bại lộ.

Chúng tôi cùng nhau bắn ná trong ngự hoa viên, cùng nhau chọi dế, trèo cây, trêu ghẹo một vài cung nữ nom vẻ khó tính…

Và chúng tôi dần trưởng thành, nhưng tôi biết, tình bạn giữa chúng tôi không hề thay đổi, hễ có chuyện gì buồn phiền, A Mục đều kể cả với tôi. Mà tôi thì, lúc nào cũng giúp cậu ấy nghĩ cách.

Chuyện buồn phiền của A Mục nhiều lắm, Bệ Hạ chỉ có mình cậu ấy là con trai, hiển nhiên cũng đặt nhiều kì vọng. Song, đứng trước một vị Hoàng đế anh minh, con người ta bất kể là ai cũng thấy mình thật tầm thường nhỏ bé

A Mục từng hỏi tôi rằng: "Đệ phải làm gì mới được như Phụ Hoàng đây."

Tôi không biết nên trả lời thế nào.

Bệ Hạ là vị quân vương có tài thao lược về quân sự, người từng chinh phạt Tây Vực, bình định Nam Di, đánh bại vô số thành trì lớn nhỏ, xây dựng cơ nghiệp bền vững với muôn đời. Đứng trước địa đồ núi sông của bản triều, người ta khó mà kìm được bầu nhiệt huyết sục sôi. Hơn trăm năm dựng nước đến nay, lãnh thổ triều đình ta chưa bao giờ lại rộng lớn đến thế. Hằng năm cứ đến kỳ tuế cống, chư hầu các nước lại đổ về chầu dâng cống phẩm tỏ lòng quy phục.

Tôi từng được theo cha, hầu Bệ Hạ lên Thừa Thiên Môn, nghe muôn dân xưng tụng vạn tuế, âm thanh dao động khắp cửu thành, ngay cả những đứa trẻ con mít đặc như chúng tôi cũng cảm giác trời đất rung chuyển, khí huyết sục sôi. Vậy mà Bệ Hạ chẳng màng nhích mép cười lấy một nụ, người thường chỉ đứng đảo qua, chẳng được bao lâu, liền sai hầu buông rèm, đoạn xa giá về thằng Tây Cung. Dường như thảy những phồn hoa không gì sánh được ở đời này, trong mắt vị đế vương kiêu hãnh lạnh lùng ấy, chẳng qua chỉ như mây như khói.

Có một người cha như thế, tôi thấy A Mục cũng khó tránh khỏi cảm giác đáng thương.

Bệ Hạ thông thạo cả cung lẫn ngựa, thiên triều ta giành được thiên hạ từ trên lưng ngựa, trong quá trình dạy dỗ các thế hệ con em quý tộc thì cưỡi ngựa bắn tên là môn học vỡ lòng, văn võ hóa lại đứng thứ 2. Tôi được đích thân cha mình chỉ bảo, trong số anh em cùng trang lứa, võ công của tôi được đánh giá ở mức khá khẩm, vậy mà khi đọ sức với Bệ Hạ, quả nhiên vẫn kém xa.

Tôi từng chứng kiến bản lĩnh của Bệ Hạ, bữa đó tôi và A Mục hầu người bách bộ trong ngự hoa viên, có đôi chim non líu lo hót trên cành, Bệ Hạ cầm bộ ná trên tay A Mục, nhón một viên đạn vàng, đoạn bắn hạ đôi chim kia. Cái gọi là một mũi tên trúng hai con nhạn có lẽ chính là đây, chỉ một viên đạn mà đầu đôi chim nọ bị bắn cho tan tác, xương thịt nát bấy gần bằng bột mịn, có thể thấy lực bắn mạnh kinh người.

Bệ Hạ vốn không thích những thứ thành đôi thành cặp, các triều đại trước, khi hồ Thái Dịch trong cung nở sen Tịnh đế, thì người ta đoán bảo hẳn đây là điềm lành, không thiếu những vị học sĩ Hàn Lâm đã tức cảnh sinh tình nảy ý thơ. Vậy mà năm Khâm Hòa thứ 2, hồ Thái Dịch nở sen Tịnh đế, lại không một ai dám tâu lên Bệ Hạ, sau cùng nội thị họ Vương đánh bạo, sai người lén cắt phăng cành sen ấy đi mới yên chuyện.

Cũng bởi tính khí cổ quái ấy của Bệ Hạ, mà lúc xây Tây Uyển, thậm chí đến cả số điện thờ phụ cũng là số lẻ, Công bộ lang có Trương Liễm vốn là người tỉ mỉ cẩn thận, nhưng trong chuyện này lại vô cùng mạnh dạn. Mặc dù bộ Lễ cũng biết làm thế là phạm phải quy chế của liệt tổ liệt tông dòng dõi hoàng tộc, song nói cho cùng thì Tây Uyển cũng chỉ là rừng uyển của hoàng thất, không thể xem như cung điện chính thống được, nên đành mắt nhắm mắt mở cho qua.

Sở dĩ bộ Lễ biết điều như thế, cũng bởi tính khí ngang ngược này của bệ tăng dần theo năm tháng, song không một ai dám thẳng thừng khuyên can.

Mà Bệ Hạ cũng chẳng phải mê muội lẩm cẩm, người vẫn vô cùng anh minh khi chọn hiền tài, chuyện triều chính giải quyết đâu ra đấy.

Còn trong Hậu Cung lại chẳng có lấy một vị phi tử nào đắc sủng, Bệ Hạ lại không mấy mặn mà với thanh sắc, thỉnh thoảng thì mở hội đi săn, song cũng chưa hẳn là thú vui. Đối với một vị vua không tửu sắc không ham thích gì thế này, quần thần đành chịu bó tay.

Nghe nói các bậc bề tôi rất đỗi lo lắng việc Bệ Hạ chỉ có duy nhất một vị hoàng tử, đối với Hoàng thất mà nói, chuyện này quá mức họa hoằn, đương nhiên tránh sao khỏi buồn lo.

Vô số tấu chương nhắc nhở bay về tới tấp, như thể nếu Bệ Hạ không đẻ đến 8, 9, 10 đứa con trai, e thật có lỗi với toàn thiên hạ.

Vậy mà Bệ Hạ vẫn bàng quan mặc kệ.

Năm Khâm Hòa thứ 4, Hiền phi Lí Thị cuối cùng đã hoài thai. Triều đình và muôn dân đều mong ngóng Hiền phi sẽ hạ sinh cho Bệ Hạ thêm một người con, ai ngờ Lí Thị sinh khó, vật lộn sinh được một vị công chúa thì ngọc nát hương tan.

Công chúa có hiệu là Triêu Dương.

Bệ Hạ lấy tên chính điện Triêu Dương để phong thụy hiệu cho công chúa, đủ thấy người cưng chiều con gái thế nào.

Triêu Dương công chúa quả thực sinh ra đã trắng nõn trắng nà, đáng yêu vô cùng. Có lẽ vì thương công chúa vừa chào đời đã mồ côi mẹ, nên ngày ngày Bệ Hạ đích thân dìu dắt, thậm chí còn đưa theo lên triều, đặt công chúa ngồi trên đùi mình, dường như chơi đùa với đứa con gái nhỏ này còn quan trọng hơn cả chuyện quốc gia đại sự ở đời.

Thoạt đầu quần thần cũng bất bình, dần dà lại nhận ra điểm lợi hại của Triêu Dương công chúa

Giả dụ Bệ Hạ có nổi giận, không kẻ nào dám làm trái với sắc diện thiên tử, chỉ cần sai bảo mẫu ẵm công chúa đến, thì có khi tội tày trời cũng thành vô tội.

Triêu Dương công chúa lúc nào cũng cười khanh khách, vươn tay rồi sà vào lòng người.

Mà lúc Bệ Hạ ẵm cô bé, thế nào mặt cũng nở cười rạng rỡ.

Năm Triêu Dương lên 4, đã được vua ban thực ấp(*) vạn hộ cùng vô kể nô bộc. Thậm chí vì thương con gái mà Bệ Hạ không tiếc công xây một ngự hoa viên trên Li Sơn, chỉ bởi công chúa Triêu Dương mắc chứng hen suyễn, Thái Y khuyên nên đưa công chúa đến vùng suối nước nóng nhiều hơn.

Nội dung chương bạn đang xem bị thiếu. Vui lòng truy cập website https://truyenhay.pro.vn để xem nội dung đầy đủ. Cảm ơn bạn đọc!