Chương 30: Hạ Mình Cầu Xin

Đến tối hôm đó Hải vẫn chưa trở về, Đình Duệ thấy tôi nôn nóng đi ra đi vào mới hỏi:

- Đinh Thanh, em đang đợi ai sao?

- Không có, em đi lui đi tới cho tiêu cơm. – Tôi chột dạ chỉ có thể trả lời qua loa rồi đến ngồi yên ở bàn đá.

Đình Duệ cầm ấm trà rót vào chén đưa qua cho tôi, khói nóng từ trà phả lên. Tôi cầm chén trà nóng thổi thổi rồi nhấp một ngụm.

- Gần đây không thấy em ngồi chơi với cuộn len, có phải đã làm xong rồi không? – Đình Duệ vừa nói vừa cười.

Nếu Đình Duệ không nhắc đến có lẽ tôi đã quên mất chiếc khăn quàng tôi đan dở dang nằm ở đâu đó trong phòng. Thực ra chiếc khăn quàng chỉ cần đan phần cuối nữa là xong nhưng từ ngày biết tin Trịnh Khải bị truất ngôi thì tôi đã không còn tâm trí để hoàn thành nó nữa. Đình Duệ thấy tôi không trả lời bèn trêu chọc:

- Có phải em làm xấu quá nên không dám đem ra không?

Tôi bĩu môi, liếc Đình Duệ một cái thật dài.

- Đừng có coi thường tài năng của em.

- Ấy ấy, anh nào dám coi thường em. – Đình Duệ ngẩng đầu vừa nhìn cây lựu vừa thở dài. – Lựu ơi, khi nào mới có quả ăn?

Đình Duệ đổi đề tài đột ngột, tôi nhíu mày nghi ngờ anh có ý khác. Quả nhiên, Đình Duệ thấy biểu cảm của tôi thì bật cười:

- Không phải nói em nên mang bài thơ "Cây lựu" ra treo ở đây sao? Có nó rồi thì anh sẽ biết được khi nào sẽ có lựu ăn.

Tôi nghẹn họng, chỉ có thể thở phì phì trừng mắt nhìn Đình Duệ rồi bỏ vào phòng. Anh nhìn thấy tôi quay người đi thì bật cười lớn, tiếng cười rất sảng khoái. Thỉnh thoảng Đình Duệ vẫn trêu chọc tôi, hôm nay coi như cho anh vui vẻ một chút vậy.

***

Sáng hôm sau vẫn chưa thấy bóng dáng của Hải, tôi đành lôi chiếc khăn len ra ngồi đan tiếp trong lúc chờ đợi. Thật ra nếu không có sách địa lý thì tôi sẽ đổi sang một loại sách khác, nhưng việc Hải chưa trở về khiến tôi có chút sốt ruột cũng có chút lo lắng, sợ rằng anh ta gặp phải bất trắc gì. Việc ngồi đan khăn ít nhất giúp tôi trấn tĩnh hơn, không phải đi ra đi vào.

Lúc tôi vừa hoàn thành chiếc khăn len quàng cổ để tặng Đình Duệ thì Hải cũng vừa về đến. Tôi đặt chiếc khăn xuống bàn, đi vội đến trước mặt anh ta. Hải cưỡi ngựa đi đường, cả người đều bám bụi, đôi mắt cũng có tia máu đỏ. Tôi hỏi:

- Sao ngươi về trễ như vậy? Có phải gặp chuyện gì hay không?

- Tôi không gặp chuyện gì. – Hải lấy từ trong ngực áo ra một bọc giấy đưa cho tôi. – Tiểu thư, đây có phải là vật người cần không?

Tôi đưa tay nhận lấy, mở bọc giấy ra thấy bên trong có hai quyển mỏng. Tôi mở một quyển ra, là sách truyền giáo viết song ngữ, một bên là tiếng Pháp, một bên là tiếng Việt. Tôi thực sự bị làm cho ngạc nhiên, ra chữ Quốc ngữ Việt Nam đã có từ thời này rồi. Một quyển khác là một tập chép tay viết bằng thứ tiếng lạ. Tôi không khỏi thở dài trong lòng nhưng nhìn Hải mệt mỏi nên cũng không dám nói ra.

- Sao đi lâu như vậy? – Tôi hỏi thăm.

- Thưa, ở Phố Hiến không còn người ngoại quốc đến từ phương Tây, tôi cầm giấy của tiểu thư đi hỏi xung quanh, có người nhận ra mặt chữ lại chỉ đường cho đến một nhà thương buôn ở phủ lân cận tìm.

Ra vậy. Họ có thể phân biệt được chữ Hán hay chữ La

-tinh, nhưng không phân biệt được đâu là tiếng Anh, tiếng Pháp hay tiếng Bồ Đào Nha... Tôi nói Hải trở về nghỉ ngơi, ngày mai tôi sẽ tìm anh ta.

Cầm hai cuốn sách vào phòng, tôi ngồi mở coi từng trang. Tuy rằng tôi học tiếng Anh nhưng đối với tiếng Pháp cũng có sự nhận biết nhất định, quyển truyền giáo chia làm hai cột, một bên là tiếng Pháp, một bên là tiếng Việt viết bằng chữ La

-tinh nhưng chưa hoàn thiện như ở thời hiện đại. Riêng quyển chép tay được viết bằng tiếng Bồ Đào Nha, bởi trang đầu tiên có tên và quê hương của người viết nên tôi dễ dàng nhận ra.

Nhìn từng trang có ghi ngày tháng, tôi đoán đây là quyển nhật ký đi biển của một thương buôn người Bồ Đào Nha, nhưng tại sao nó lại thất lạc ở trấn Sơn Nam thì tôi không thể đoán được. Lật ra đến trang giữa thì một tờ giấy gấp tư rơi ra. Tôi nhặt lên, mở ra xem. Đó là một tấm bản đồ.

Tôi đặt bản đồ xuống bàn, đến đứng bên cửa sổ nhìn ra sân. Lê Quý Đôn là nhà bác học uyên thâm, đối với những thứ mới lạ ông đều rất hứng thú. Ông đặc biệt quan tâm đến Nho giáo, Triết học và Địa lý. ông đặc biệt quan tâm Nho giáo, Triết học và Địa lý. Trí nhớ của tôi về Lê Quý Đôn chỉ dừng lại ở đó nhưng nhờ vậy tôi mới nảy ra được ý định tiếp cận ông.

Lê Quý Đôn ham học lại là quan mẫu mực, không thể dùng vàng bạc để nhờ cậy, cho nên tôi mới nghĩ đến dùng một cuốn sách Địa lý bằng tiếng Anh để tặng ông. Tại sao lại là sách Địa lý? Đơn giản vì ông có hứng thú với thế giới xung quanh và tôi cũng dễ kiếm nó từ các thương buôn đi thuyền người nước ngoài hơn các loại sách khác. Còn bằng tiếng Anh chứ không phải tiếng Hán là để tôi có thể đọc hiểu được và để có lý do nói chuyện nhiều hơn với ông.

Nhưng việc tìm kiếm không đơn giản như tôi nghĩ. Đối với các nhà Nho thì quyển sách truyền giáo kia là một thứ cấm. Quyển chép tay thì không thể dùng tới. Nhưng tấm bản đồ thì có thể, chỉ là có chút khó khăn.

Còn có hai rủi ro nữa, đó là Lê Quý Đôn tuy học vấn uyên bác nhưng liệu có hứng thú với sách của người phương Tây? Và liệu ông có cởi mở để chấp nhận một cô gái đến tìm ông bàn luận kiến thức? Hay là người mang tư tưởng Nho giáo luôn nghĩ rằng con gái phải ở trong nhà? Chiều tà ngày hôm sau, đến trước phủ nhà Lê Quý Đôn, tôi nói Hải đánh xe ngựa đi qua con phố bên cạnh. Tôi không muốn Lê Quý Đôn biết tôi là tiểu thư nhà Huy Quận Công.

Nội dung chương bạn đang xem bị thiếu. Vui lòng truy cập website https://truyenhay.pro.vn để xem nội dung đầy đủ. Cảm ơn bạn đọc!